CÁC GIẢI THƯỞNG TIẾNG ANH, TOÁN & HỘI HOẠ CỦA NGUYỄN BẢO KHÁNH – HỌC SINH NHÍ TÀI NĂNG CỦA SMARTCOM
Bên cạnh các bạn học sinh tài năng khác, Nguyễn Bảo Khánh cũng là một trong những học sinh nhí có thành tích, giải thưởng xuất sắc đã và đang tham gia các khoá học tại Smartcom English. Bảo Khánh đã thành công đạt được những giải thưởng ấn tượng trong các giải đấu Quốc tế về môn Toán và Tiếng Anh, hãy cùng điểm tên các thành tích đặc biệt này của Bảo Khánh nhé.
MÔN TOÁN
Huy chương Đồng Quốc tế Olympic Toán BBB 2022
(Kỳ thi Olympic Toán học quốc tế Khu vực Vịnh lớn Big Bay Bei (BBB) (Guangdong – Hong Kong – Macao Greater Bay Area Mathematical Olympiad – Big Bay Bei (BBB)) được thành lập và tổ chức hàng năm bởi Trung tâm Giáo dục Vô địch Olympiad Hong Kong (Olympiad Champion Education Centre from Hong Kong) – được cấp phép bởi Bộ Giáo dục Hồng Kông, Trung Quốc.) Năm 2022, kỳ thi BBB có 9 nước tham gia.
Huy chương Đồng Quốc tế FISO 2022-2023
(Năm học 2021-2022: Huy chương Bạc Quốc tế FISO)
Kỳ thi Olympic Toán, Tiếng Anh và Nghệ Thuật trực tuyến FISO được tổ chức bởi Đội ngũ FISO Olympiad – Mỹ, là sân chơi với mục đích mang lại động lực cho giáo viên và học sinh, kích thích và định hướng học tập trong thời kỳ đại dịch toàn cầu. Kỳ thi chú trọng vào sự kết hợp logic và tư duy phản biện của học sinh, nhằm truyền cảm hứng, tình yêu với Toán học, Nghệ thuật và Tiếng Anh tới giới trẻ. Đây là một cơ hội cho các học sinh và các trường tham gia để giao lưu, rèn luyện, quan sát và tiếp cận các môn học Toán học, Tiếng Anh và Nghệ thuật từ các nơi khác nhau trên thế giới.). Năm 2023 có 31 nước tham gia.
Giải Khuyến khích cấp quốc gia (Toán)
Kì thi chọn đội tuyển Việt Nam Toán và Khoa học và được đại diện Việt Nam đi thi Olympic Toán và Khoa học Châu Á (The Asian Science and Mathematics Olympiad for Primary and Secondary Schools – ASMOPSS)
MÔN TIẾNG ANH
Huy chương Vàng Quốc tế FISO 2022 – 2023
MÔN HỘI HỌA
Huy chương Bạc Quốc tế FISO 2022 – 2023
Kỳ thi Olympic Toán, Tiếng Anh và Nghệ Thuật trực tuyến FISO được tổ chức bởi Đội ngũ FISO Olympiad – Mỹ, là sân chơi với mục đích mang lại động lực cho giáo viên và học sinh, kích thích và định hướng học tập trong thời kỳ đại dịch toàn cầu. Kỳ thi chú trọng vào sự kết hợp logic và tư duy phản biện của học sinh, nhằm truyền cảm hứng, tình yêu với Toán học, Nghệ thuật và Tiếng Anh tới giới trẻ. Đây là một cơ hội cho các học sinh và các trường tham gia để giao lưu, rèn luyện, quan sát và tiếp cận các môn học Toán học, Tiếng Anh và Nghệ thuật từ các nơi khác nhau trên thế giới.). Năm 2023 có 31 nước tham gia.
Thông tin liên hệ
Trụ sở chính: Smartcom English – Tầng 4 Toà 29T2, đường Hoàng Đạo Thúy, khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
CÁC GIẢI THƯỞNG TIẾNG ANH & HỘI HỌA CỦA NGUYỄN BẢO MINH – HỌC SINH NHÍ TÀI NĂNG CỦA SMARTCOM
Trong 17 năm hoạt động với hơn 2 triệu học sinh trong hệ thống, Smartcom English đã và đang tiếp tục nhận được nhiều tin vui thành tích đến từ các bạn học sinh của trung tâm. Lần này Bảng thành tích Vàng của Smartcom English xin được gọi tên học sinh nhí Nguyễn Bảo Minh – một học sinh tài năng và xuất sắc. Dưới đây là những huy chương và giải thưởng mà em Nguyễn Bảo Minh đã đạt được trong năm 2022 – 2023, thể hiện được niềm yêu thích với học tập và tài năng trong các môn học của em.
MÔN TIẾNG ANH
Huy chương VÀNG Quốc tế Olympic FISO 2 năm học 2021-2022 và 2022-2023:
(Huy chương và giấy chứng nhận kết quả Quốc tế Olympic FISO – Nguyễn Bảo Minh)
Năm 2023 có 31 nước tham gia Kỳ thi Olympic Toán, Tiếng Anh và Nghệ Thuật trực tuyến FISO được tổ chức bởi Đội ngũ FISO Olympiad – Mỹ, là sân chơi với mục đích mang lại động lực cho giáo viên và học sinh, kích thích và định hướng học tập trong thời kỳ đại dịch toàn cầu. Kỳ thi chú trọng vào sự kết hợp logic và tư duy phản biện của học sinh, nhằm truyền cảm hứng, tình yêu với Toán học, Nghệ thuật và Tiếng Anh tới giới trẻ. Đây là một cơ hội cho các học sinh và các trường tham gia để giao lưu, rèn luyện, quan sát và tiếp cận các môn học Toán học, Tiếng Anh và Nghệ thuật từ các nơi khác nhau trên thế giới.).
Huy chương VÀNG quốc gia HIPPO 2022
Kỳ thi Olympic Tiếng Anh quốc tế HIPPO là kỳ thi Tiếng Anh tầm cỡ quốc tế, do Hiệp hội HIPPO toàn cầu tổ chức với sự tham gia của hơn 55 quốc gia thu hút gần 70 nghìn thí sinh có độ tuổi từ 6 đến 19 trên toàn thế giới.
Được lựa chọn là diễn giả tại TEDx Vinschool Ha Noi 2023
MÔN HỘI HỌA
Huy chương VÀNG Quốc tế Olympic FISO năm học 2021-2022
Huy chương ĐỒNG Quốc tế Olympic FISO năm học 2022 – 2023
Kỳ thi Olympic Toán, Tiếng Anh và Nghệ Thuật trực tuyến FISO được tổ chức bởi Đội ngũ FISO Olympiad – Mỹ, là sân chơi với mục đích mang lại động lực cho giáo viên và học sinh, kích thích và định hướng học tập trong thời kỳ đại dịch toàn cầu. Kỳ thi chú trọng vào sự kết hợp logic và tư duy phản biện của học sinh, nhằm truyền cảm hứng, tình yêu với Toán học, Nghệ thuật và Tiếng Anh tới giới trẻ. Đây là một cơ hội cho các học sinh và các trường tham gia để giao lưu, rèn luyện, quan sát và tiếp cận các môn học Toán học, Tiếng Anh và Nghệ thuật từ các nơi khác nhau trên thế giới.). Năm 2023 có 31 nước tham gia.
Giải NHẤT Thiết kế Poster Giáo dục toàn cầu UniCEP 2022
Kỳ thi Thiết kế Poster Giáo dục toàn cầu UniCEP (Universal Competition of Educational Poster) được tổ chức hàng năm bởi Ban Tổ chức UniCEP quốc tế có trụ sở tại 192 Liverpool road Manchester, Vương quốc Anh. Kỳ thi UniCEP năm 2022 tổ chức lần thứ 11, dành cho thí sinh trong độ tuổi từ 12 đến 18 và kỳ thi UniCEP Junior tổ chức lần thứ 8, cho độ tuổi từ 8 đến 12. Tất cả poster được đánh giá bởi bởi hội đồng giám khảo là các chuyên gia từ nhiều nước khác nhau trên thế giới. Kỳ thi đã thu hút hàng ngàn thí sinh tham dự từ các quốc gia trên thế giới như Italia, Nigeria, Angola, Thổ Nhĩ Kỳ, Tanzania, Myanma, Philippines, Indonesia, Ấn Độ, Đài Loan, Pakistan, Hy Lạp, … và đây là lần thứ năm kỳ thi được tổ chức tại Việt Nam.
MỘT SỐ TÁC PHẨM HỘI HỌA ĐẠT GIẢI THƯỞNG
Thông tin liên hệ
Trụ sở chính: Smartcom English – Tầng 4 Toà 29T2, đường Hoàng Đạo Thúy, khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Để có thể xây dựng một lộ trình phát triển tiếng Anh trẻ em hoàn thiện và hiệu quả cho con, phụ huynh cần có cái nhìn tổng quan trước khi quyết định đầu tư cho con học tiếng Anh. Ở bài viết này, các chuyên gia tiếng Anh tại Smartcom English sẽ đưa ra một lộ trình học tiếng Anh trẻ em từ 0 đến 8.0+ IELTS đầy đủ và khoa học cho các cha mẹ tìm hiểu để có lựa chọn việc học tập hợp lý.
Về nguyên tắc, tiếng Anh là một sinh ngữ, nó cũng giống như tiếng Việt, trẻ được học càng sớm càng tốt. Và khoa học cũng đã chứng minh học ngoại ngữ sớm không làm chậm hay lẫn lộn với tiếng mẹ đẻ của trẻ con, nên việc học ngoại ngữ sớm xét về mặt tổng quan sẽ có lợi nhiều hơn.
(Ảnh: các em bé Smartcom English với lộ trình học tiếng Anh từ 0 lên IELTS 8.0+)
Lợi ích của việc học ngoại ngữ sớm
Đây là vấn đề đã được chứng minh trong thực tiễn khi cái lợi của việc làm chủ tiếng Anh cao cấp từ sớm đánh bật hoàn toàn cái bất lợi của nó. Đồng ý rằng việc học ngoại ngữ sẽ tốn thời gian, tiền bạc trong thời gian dài, nhưng cái lợi thu được đó là:
Các bé thoải mái phát triển mọi kỹ năng tại Smartcom English
– Nâng cao năng lực nhận thức
– Nâng cao năng lực tư duy và học tập trên trường học
– Nâng cao khả năng kết nối xã hội và kết nối với thế giới
– Nâng cao cơ hội học tập quốc tế
– Mở ra cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn nhờ thành thạo tiếng Anh ở trình độ cao cấp
Những cơ hội nhờ việc học tiếng Anh sớm mang lại sẽ bù đắp dễ dàng mọi chi phí đầu tư học ngoại ngữ trong nhiều năm của các con. Dưới đây là những mô tả quan trọng mà phụ huynh cần biết để chọn chương trình học tiếng Anh cho con.
Lộ trình học IELTS theo từng độ tuổi
Giai đoạn mới sinh (0 đến 3 tuổi):
Trẻ Việt Nam có thể học tiếng Anh tại nhà và tại trường mẫu giáo ngay từ 0 tuổi. Ở giai đoạn này, dù trẻ con chưa biết chữ và cũng đang học tiếng Việt mẹ đẻ, nhưng việc tiếp thu thêm một hay hai ngoại ngữ là tiếng Anh và một số ngoại ngữ khác cũng không phải là trở ngại, thậm chí là còn có lợi.
Ưu điểm:Các nhà khoa học về ngôn ngữ tại đại học Harvard và các trường đại học lớn khác đã tìm thấy bằng chứng rõ ràng rằng trẻ em học ngoại ngữ không hề bị lẫn lộn với tiếng mẹ đẻ, mà thậm chí còn giúp trẻ em có năng lực ngôn ngữ linh hoạt và mở rộng hơn, phát triển năng lực học tập trong tương lai tốt hơn so với những đứa trẻ chỉ học tiếng mẹ đẻ trong những năm đầu đời. Người ta nhận thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ mạng lưới kết nối nơ-ron thần kinh của những đứa trẻ học ngoại ngữ sớm hơn hẳn so với những đứa trẻ khác.
Trẻ con có thể học tiếng Anh thông qua bức tranh, kể chuyện, trò chơi, và đặc biệt là bài hát cùng cha mẹ và thầy cô ở trường mầm non trong giai đoạn này. Ở giai đoạn 0 đến 2 tuổi này trí tuệ và năng lực ngôn ngữ của trẻ phát triển bùng nổ mạnh mẽ nhất mà không bất cứ giai đoạn nào có được. Việc học ngoại ngữ ở lứa tuổi đặc biệt nhạy cảm với ngôn ngữ này sẽ tạo nền tảng tốt giúp cho trẻ hấp thụ tiếng Anh sâu và chắc chắn, sau này học tiếng Anh sẽ càng dễ dàng hơn.
Khóa học phù hợp:ở lứa tuổi từ 0 đến 3 tuổi này là quá sớm để bố mẹ tìm lớp học ngoại ngữ ở trung tâm cho con, vì con chưa có khả năng tập trung và tiếp thu hiệu quả buổi học tại trung tâm. Bố mẹ nên tìm các App học ngoại ngữ để cùng con học ở nhà và gửi con học ở trường mầm non có giờ học tiếng Anh với giáo viên bản ngữ (phát âm chuẩn).
Giai đoạn mẫu giáo (từ 4 đến 7 tuổi):
Giai đoạn này trẻ thường chưa biết viết chữ, nhưng có thể học tại các trung tâm tiếng Anh kết hợp với sử dụng phần mềm học tại nhà. Giai đoạn này vẫn nằm trong lứa tuổi vàng để học ngôn ngữ, nên việc đầu tư vào học tiếng Anh ngay từ lúc này là một việc làm khoa học và rất hiệu quả. Hệ thống giáo dục sớm của Mỹ ưu tiên dạy phát triển năng lực đọc viết sớm, năng lực tư duy logic và toán học, năng lực tư duy sáng tạo ngay ở lứa tuổi này.
Ưu điểm:Lúc này bộ não của trẻ vẫn hấp thụ ngoại ngữ tốt không kém gì việc học tiếng mẹ đẻ, và độ nhạy cảm với ngôn ngữ vẫn rất cao. Nghiên cứu của Đại học Harvard cho thấy trẻ có thể phân biệt tới 77 âm vị (đơn vị âm thanh nhỏ nhất khi con người phát âm), trong khi sau tuổi 14 thì trẻ mất đi độ nhạy bén với ngôn ngữ này và chỉ có thể phân biệt tốt từ 45 đến 50 âm vị giống như một người trưởng thành. Ngoài ra, thời gian này trẻ có nhiều thời gian học ngoại ngữ hơn hẳn so với giai đoạn sau này khi phải học nhiều môn học hơn ở trường học.
(Ảnh: Các học sinh tiểu học ở Smartcom English học tiếng Anh chuẩn Cambridge theo phương pháp vận động toàn cơ thể TPR)
Khóa học phù hợp:Nếu phụ huynh có điều kiện thì nên chọn cho con chương trình mẫu giáo quốc tế, vì con sẽ có thể hấp thụ tiếng Anh trực tiếp từ giáo viên bản ngữ thông qua các bài học được thiết kế chuyên nghiệp. Còn nếu không thì phụ huynh nên chọn khóa học được xây dựng theo phương pháp Giáo dục sớm của Mỹ, nơi đề cao phát triển năng lực ngôn ngữ, tư duy logic và tư duy sáng tạo cho trẻ em.
→ Tại Smartcom English, phụ huynh có thể cho con học chương trình Tiếng Anh và Logic thông qua chương trình giáo dục sớm được nghiên cứu bởi đại học Harvard. Chương trình Giáo dục sớm tại Smartcom English sử dụng toàn bộ học liệu theo các chuẩn phát triển lứa tuổi theo hệ thống Common Core của Mỹ cho trẻ từ 4 đến 7 tuổi. Và chương trình này chỉ tập trung vào phát triển năng lực tiếng Anh và tư duy logic, tư duy sáng tạo cho trẻ. Ưu điểm nổi bật của chương trình là nhằm giúp các con có năng lực đọc và viết tiếng Anh sớm, làm toán sớm, phát triển tư duy logic và sáng tạo mạnh. Để hiểu rõ hơn về chương trình, quý phụ huynh có thể download tài liệu mẫu của một số nội dung dạy học dưới đây.
Download tài liệu cùng bé vui học chữ và số tiếng Anh bằng tô màu vào tranh chữ (sight words).
Download tài liệu cùng bé khám phá bản thân qua vẽ, cắt dán, tô màu.
Giai đoạn tiểu học (từ 7 đến 11 tuổi):
Giai đoạn này trẻ nên học các chương trình tiếng Anh trẻ em chuẩn quốc tế như Cambridge hay Oxford hoặc các chương trình tương đương tại trường quốc tế, trường học có hệ song ngữ, hoặc tại các trung tâm tiếng Anh. Việc được học trực tiếp các môn học bằng tiếng Anh và học tiếng Anh như một môn học ngôn ngữ thứ hai (ESL – English as a Second Language) thì sẽ giúp trẻ em phát triển được năng lực song ngữ đồng thời (simultaneous bilingualism), tức là năng lực tiếng Anh giống như trẻ em bản ngữ.
Tuy nhiên, nếu không có điều kiện học song ngữ, thì trẻ em có thể đến các trung tâm học theo chương trình ESL (tiếng Anh như ngôn ngữ thứ 2) theo chuẩn quốc tế. Với việc các trường đại học ưu tiên chứng chỉ IELTS trong xét tuyển đại học ngày nay ở Việt Nam, và việc phải có chứng chỉ IELTS nếu đi du học, thì phụ huynh nên chọn chuẩn Cambridge cho con ở lứa tuổi tiểu học để theo. Vì Cambridge chính là đơn vị “sản xuất” ra bài thi IELTS, và được triển khai khảo thí tại Hội đồng Anh và IDP (Úc), nên học theo Cambridge sẽ dễ thích nghi với bài thi IELTS sau này do cách tư duy và ra câu hỏi tương đồng.
Ưu điểm: Ở giai đoạn này, độ nhạy cảm ngôn ngữ với trẻ vẫn còn, và khả năng học tập theo lớp học đã được hình thành vững chắc, nên việc theo học các khóa học tiếng Anh tại các lớp học đã trở nên dễ dàng hơn. Kèm theo sự luyện tập liên tục sẽ đảm bảo trẻ em phát triển được tối đa khả năng ngôn ngữ của mình.
Việc học tốt tiếng Anh từ sớm sẽ không chỉ giúp trẻ nắm bắt được nhiều cơ hội học tập và giao lưu văn hóa ở bên ngoài, mà còn tạo nền tảng thuận lợi đặc biệt cho lứa tuổi trung học phổ thông sau này. Trẻ có trình độ ngoại ngữ tốt sẽ dễ dàng luyện và đạt điểm cao ở các bài thi chứng chỉ IELTS, SAT, A-level hay IP v.v… hơn mà không chịu áp lực ôn luyện quá lớn trong khoảng thời gian cấp 3 đầy bận rộn và căng thẳng.
Khóa học phù hợp: Tại Smartcom English, các học sinh tuổi tiểu học có thể chọn khóa tiếng Anh trẻ em định hướng học thuật của Cambridge với việc dạy đầy đủ 6 trụ cột của ESL gồm Từ vựng, Ngữ pháp, và 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết tuân thủ chặt chẽ chuẩn Cambridge. Điều này vừa giúp các con vận dụng và bổ trợ hiệu quả cho việc học tiếng Anh trên trường, vừa chuẩn bị cho tương lai luyện thi các chứng chỉ tiếng Anh học thuật khó như IELTS hay TOEFL, và vừa có thang đo trình độ rõ ràng để phụ huynh dễ theo dõi như dưới đây:
Trình độ A0: tương đương khóa Cambridge Starters, dành cho trẻ bắt đầu học tiếng Anh từ những điều đơn giản đầu tiên như bảng chữ cái, ngữ âm cơ bản, và những cấu trúc câu, vốn từ vựng cơ bản đầu tiên.
Trình độ A1:tương đương khóa Cambridge Movers. Trình độ này thường phù hợp với học sinh lớp 1 có trình độ tiếng Anh khá, hoặc học sinh lớp 2.
Trình độ A2:tương đương khóa Cambridge Flyers. Trình độ này phù hợp với học sinh lớp 2 có trình độ tiếng Anh khá hoặc học sinh lớp 3.
Trình độ A2 KET:tương đương khóa Cambridge KET. Trình độ này thực chất không phải là trình độ cao hơn so với trình độ A2 học theo chương trình Flyers ở trên, mà chỉ là tương đương. Nhưng nội dung chương trình KET được thiết kế cho lứa tuổi học sinh lớp 4 và lớp 5 với mức độ trừu tượng của ngôn ngữ cao hơn, và va chạm với nhiều nội dung, bối cảnh giao tiếp mà học sinh ở lứa tuổi lớp 4 và lớp 5 thường gặp hơn so với trình độ Flyers.
Trình độ B1: tương đương Cambridge PET. Thực tế cho thấy trình độ Cambridge PET có thể coi là trình độ cao nhất mà một học sinh lứa tuổi tiểu học có thể đạt đến. Vì trình độ này không chỉ khó về chiều sâu ngôn ngữ tiếng Anh, mà bối cảnh giao tiếp cũng như tốc độ xử lý các tài liệu đọc, nghe, nói, viết cũng phức tạp không kém nhiều so với các đứa trẻ bản địa ở lứa tuổi lớp 5. Cho nên những học sinh Việt Nam mà thi đạt chứng chỉ Cambridge PET (từ 140 điểm trở lên) thường có khả năng tiếng Anh tốt vượt trội so với bạn bè đồng trang lứa. Còn nếu học sinh lớp 6 hoặc lớp 7 thi đạt chứng chỉ PET cũng là một điều tích cực rồi, vì nó phản ánh học sinh có năng lực tiếng Anh tốt, có thể giao tiếp hoàn toàn độc lập trong môi trường tiếng Anh.
(Ảnh: Các khóa học tiếng Anh của Smartcom English theo chuẩn IELTS, Cambridge cho trẻ em và thiếu niên)
Giai đoạn trung học cơ sở (11 đến 15 tuổi):
Giai đoạn này trẻ bắt đầu chuyển đổi từ nội dung học tiếng Anh trẻ em sang nội dung tiếng Anh cho tuổi thiếu niên và thanh niên (đối với những học sinh giỏi tiếng Anh). Những học sinh ở lớp 6 hay lớp 7 vẫn nên tiếp tục học theo các chương trình chuẩn hóa của Cambridge gồm Cambridge PET (trình độ B1) và Cambridge FCE (trình độ B2).
Những học sinh lớp 8 và lớp 9 có nền tảng tiếng Anh cơ bản đã đạt từ B1 trở lên rồi thì có thể chuyển sang luyện thi các chứng chỉ IELTS hay TOEFL vì đã đủ năng lực ngôn ngữ và kiến thức xã hội, kiến thức học thuật. Bên cạnh đó chứng chỉ Cambridge PET và FCE, cùng với IELTS hay TOEFL sẽ đáp ứng trực tiếp nhu cầu xét tuyển vào nhiều trường THPT ở các thành phố lớn.
Tại Smartcom English, các học sinh có thể chọn các khóa học như sau:
Các khóa học phù hợp tại Smartcom:
Cambridge KET (A2): dành cho học sinh lớp 6 nhưng có trình độ tiếng Anh trung bình so với lứa tuổi.
Cambridge PET (B1): dành cho học sinh từ lớp 6 trở lên và có trình độ tiếng Anh khá so với lứa tuổi.
Cambridge FCE (B2): dành cho học sinh lớp 6, 7 và 8 có trình độ tiếng Anh khá.
IELTS Cơ bản: dành cho học sinh lớp 7 trở lên, và có trình độ tiếng Anh khá, có đủ nền tảng kiến thức học thuật và xã hội để có thể bước vào luyện thi IELTS. Để bắt đầu luyện IELTS cơ bản, học sinh cần thi đầu vào IELTS với điểm số tối thiểu 4.5 mới có thể bắt đầu luyện thi. Học sinh cấp 2 muốn luyện thi IELTS cơ bản nên tham vấn ý kiến của chuyên gia để biết bản thân có thực sự phù hợp với luyện thi IELTS hay chưa. Chú ý: khóa IELTS cơ bản phù hợp nhất đối với học sinh lớp 8 trở lên.
IELTS Nâng cao: dành cho học sinh lớp 8 và lớp 9 có trình độ tương đương IELTS 6.0 trở lên, và có nhu cầu thi chứng chỉ IELTS trong vòng từ 6 tháng đến 1 năm trước khi bắt đầu luyện IELTS cao cấp. Học sinh THCS học xuất sắc thì vẫn có thể đạt điểm IELTS cao tới 8.0 hoặc 8.5, nhưng ngay cả khi đạt 6.5 cũng đã là một thành tích đáng tự hào rồi, vì hiện nay các trường Đại học uy tín ở Việt Nam và quốc tế cũng đang lấy điểm IELTS 6.5 là điểm trúng tuyển.
Giai đoạn trung học phổ thông (15 đến 18 tuổi):
Ở giai đoạn hiện nay, có thể thấy IELTS là ưu tiên và đích đến số 1 cho mọi quá trình học tiếng Anh trước đó, và nó đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với học sinh THPT. Vì IELTS là thước đo tin cậy và quan trọng bậc nhất đối với việc tuyển sinh vào các trường đại học hiện nay.
Tự tin tranh biện bằng tiếng Anh
Thông thường người học IELTS từ trình độ thấp (khoảng 2.5 điểm IELTS đầu vào) cần từ 18 tháng đến 2 năm học nghiêm túc thì mới đạt được điểm đầu ra kỳ vọng là 6.5, nhưng những học sinh có nỗ lực cao thì vẫn có thể rút ngắn quãng thời gian học xuống và nâng được điểm đầu ra tới 7.5, 8.0 hoặc cao hơn nữa. Tuy nhiên, các em học sinh THPT nên phấn đấu đạt điểm IELTS từ 7.0 trở lên để có ưu thế cạnh tranh lớn khi tuyển sinh vào các trường đại học uy tín.
Đối với những học sinh học tiếng Anh từ bé thì việc phấn đấu đạt từ 8.0 trở lên là điều không khó, nhưng với những học sinh chỉ tập trung học tiếng Anh và luyện IELTS thực sự từ năm học lớp 10 thì để đạt 8.0 sẽ là một sự nỗ lực lớn trong một thời gian dài.
Các khóa học tại Smartcom English
Khóa Pre-IELTS (IELTS tiền đề): Khóa học này dành cho học sinh có trình độ IELTS từ 2.5 đến 3.5, và hầu như chưa có đủ kiến thức tiếng Anh cơ bản. Khóa IELTS tiền đề tại Smartcom English không dạy tiếng Anh tổng quát cơ bản, mà tập trung rèn luyện trực tiếp vào những kiến thức, kỹ năng của bài thi IELTS, nhằm giúp học sinh tiết kiệm thời gian, nhanh chóng tích lũy đủ vốn tiếng Anh học thuật để bước vào khóa luyện thi IELTS chính thức. Thời gian học khóa Pre-IELTS thường kéo dài 12 tuần.
Khóa IELTS Cơ bản (IELTS Essentials):Khóa học này có vai trò rất quan trọng trong quá trình luyện thi IELTS vì nó trang bị toàn bộ kiến thức bắt buộc phải có để có thể làm tốt các dạng câu hỏi của bài thi IELTS ở cả 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết và các vấn đề nền tảng gồm Từ vựng và Ngữ pháp. Những học sinh có điểm IELTS 4 kỹ năng từ 4.0 đến 5.5, và cả những học sinh có điểm IELTS 6.0 hoặc 6.5 mà chưa nắm chắc các kỹ năng thiết yếu của IELTS đều nên học khóa học này. Khóa IELTS Cơ bản này sẽ không chỉ trang bị kiến thức thiết yếu (Essentials) cho IELTS, mà còn giúp nâng cao nền tảng tiếng Anh, giúp hoàn thiện năng lực tiếng Anh học thuật đủ tốt để giúp học sinh vươn lên điểm số cao từ 7.0 trở lên trong giai đoạn sau.
Khóa IELTS Nâng cao (IELTS Advanced):Những học sinh có nền tảng tiếng Anh tốt, đạt trình độ IELTS từ 6.0 trở lên và đã có kiến thức về IELTS thì có thể chọn khóa học IELTS Nâng cao (IELTS Advanced) này của Smartcom English. Khóa học này vừa tiếp tục nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh học thuật ở cả 4 kỹ năng, vừa hoàn thiện kỹ năng làm bài thi IELTS ở trình độ nâng cao với tất cả những gì mà thí sinh dự thi IELTS cần biết, với mục tiêu rất rõ ràng là kỹ năng Nghe và Đọc đạt từ 8.0 đến 9.0, và kỹ năng Nói và Viết đạt từ 7.0 trở lên. Chính vì vậy, nếu các em học sinh hoàn thành triệt để mọi mục tiêu tối đa thì điểm số IELTS tối đa các em có thể đạt được là 8.0 hoặc 8.5 trong bài thi chính thức.
Chú ý: Lộ trình nêu trên là lộ trình chuẩn cho một học sinh từ 4 tuổi học đến khi đạt 8.0 IELTS hoặc cao hơn. Tùy theo năng lực và sự nỗ lực cá nhân mà trong thực tế đã có những học sinh có thể đạt điểm IELTS 8.0 sớm hơn ngay từ lớp 8 hoặc lớp 9, hoặc có những em không theo lộ trình đó từ đầu mà chỉ học tại Smartcom English trong thời gian từ lớp 10 đến hết lớp 11 và vẫn có thể đạt 8.0 IELTS dù điểm đầu vào chỉ 3.5.
(Ảnh TS. Lên Ngọc Hoa, hiệu trưởng trường THPT Xuân Đỉnh, trao chứng nhận IELTS cho các học sinh đạt điểm 7.5 và 8.0 do Smartcom đào tạo trong kỳ thi IELTS tổ chức cho học sinh trường THPT Xuân Đỉnh năm 2021)
Để tìm hiểu thêm thông tin về các khóa học tiếng Anh phù hợp với học sinh, quý vị vui lòng liên hệ với Smartcom English
Trụ sở chính: Smartcom English, tầng 4, khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính, đường Hoàng Đạo Thúy, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Theo Hội đồng Anh (British Council): Không bao giờ là quá sớm để bắt đầu học một ngoại ngữ, ví dụ như học tiếng Anh: nó rất thú vị, nó thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và nhiều lợi ích về nhận thức và xã hội sẽ kéo dài suốt đời. Dưới đây là một số lý do tại sao việc học thêm một ngôn ngữ mới giúp con trẻ có lợi thế đáng kể và cách bố mẹ có thể giúp đỡ con, dù chúng ta có biết ngoại ngữ hay không.
Dưới đây là 6 lợi ích khác biệt mà trẻ em có được khi học ngoại ngữ sớm:
(Ảnh học sinh tiểu học học tiếng Anh tại Smartcom English)
Cung cấp cho con một khởi đầu thuận lợi Trẻ em học ngoại ngữ trước năm tuổi sử dụng cùng một phần não bộ để tiếp thu ngôn ngữ thứ hai mà chúng sử dụng để học tiếng mẹ đẻ. Những người học trẻ tuổi hơn cũng không sợ mắc lỗi, điều mà thường là một trở ngại cho những người mới bắt đầu lớn tuổi hơn.
Bắt đầu sớm và bền bỉ! Khoảng thời gian học sinh có thể dành cho việc học ngoại ngữ có mối tương quan trực tiếp và tích cực với sự phát triển nhận thức. Học ngoại ngữ song song với việc học các môn học trên trường sẽ tạo cơ hội cho trẻ phát triển mạnh ngôn ngữ và văn hóa bổ sung, phát triển mối liên hệ sâu sắc giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh hơn khi con trưởng thành.
Nuôi não của trẻ Nghiên cứu cho thấy rằng việc học một ngôn ngữ thứ hai giúp tăng cường kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và lắng nghe, ngoài ra còn cải thiện trí nhớ, sự tập trung và khả năng tư duy đa nhiệm. Trẻ em thành thạo các ngôn ngữ khác cũng cho thấy dấu hiệu tăng cường khả năng sáng tạo và tính linh hoạt về tinh thần.
Thúc đẩy thành tích học tập của con Lợi ích nhận thức của việc học một ngôn ngữ có tác động trực tiếp đến thành tích học tập của trẻ. So với những trẻ không học ngoại ngữ, những đứa trẻ song ngữ thường cải thiện các kỹ năng đọc, viết và toán tốt hơn, và chúng thường đạt điểm cao hơn trong các bài kiểm tra tiêu chuẩn.
Nuôi dưỡng sự tò mò, sự nhạy cảm về văn hóa, sự đồng cảm và lòng khoan dung của họ Trẻ em sớm tiếp xúc với các ngôn ngữ khác sẽ thể hiện thái độ tích cực hơn đối với các nền văn hóa liên quan đến các ngôn ngữ đó. Trải nghiệm học một ngôn ngữ đưa con đến với những thế giới mới theo những cách mà trẻ không học ngoại ngữ không có cơ hội trải qua.
Đừng ngần ngại: học hai hay ba ngoại ngữ cũng được Trái ngược với niềm tin sai phổ biến về sự rối loạn ngôn ngữ, trẻ nhỏ không hề bị bối rối khi học nhiều ngôn ngữ cùng một lúc. Chúng không chỉ điều hướng một cách tự nhiên trong môi trường đa ngôn ngữ, mà việc tiếp thu một ngôn ngữ thứ hai ngay từ khi còn nhỏ sẽ giúp não bộ học nhiều ngôn ngữ khác một cách nhạy bén, mở ra nhiều cơ hội phát triển ngôn ngữ và tư duy cho sau này.
Bố mẹ có thể làm gì để giúp con mình
Cho dù bố mẹ là người song ngữ hay đây là trải nghiệm đầu tiên của bạn với một ngôn ngữ khác, sự hỗ trợ của bố mẹ sẽ tạo ra sự khác biệt to lớn đối với sự thành công của con. Bố mẹ không cần phải thông thạo ngoại ngữ mà con bạn đang học để tạo ra một môi trường học tập tích cực và khuyến khích. Vì chúng ta có thể cung cấp càng nhiều cơ hội cho trải nghiệm chân thực với ngoại ngữ con đang học càng tốt và kiểm tra nhiều công cụ và tài nguyên trực tuyến có sẵn trong tầm tay ta. Ví dụ như tìm kiếm truyện, thơ, hay những kênh phim trực tuyến bằng ngoại ngữ mà con học cho con là việc không khó khăn với bố mẹ.
Bố mẹ có thể đăng ký tham gia các hội thảo với chuyên gia của Smartcom để định hướng tốt hơn cho việc học ngoại ngữ cho con.
Form đăng ký
[contact-form-7 404 "Not Found"]
Thông tin liên hệ
Trụ sở chính: Smartcom English – Tầng 4 nhà 29T2, đường Hoàng Đạo Thúy, khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
TẠI SAO BÉ GÁI THƯỜNG GIỎI HƠN BÉ TRAI KHI HỌC NGOẠI NGỮ?
Trong các hội thảo phát triển năng lực ngôn ngữ cho trẻ em mà Smartcom tổ chức cho phụ huynh, có nhiều người thắc mắc rằng dường như học sinh nữ có thể học ngoại ngữ nhanh hơn các bé trai. Và các chuyên gia của Smartcom đã tìm được câu trả lời từ các nhà khoa học Mỹ. Xin chia sẻ bài viết dưới đây được đăng trên báo uy tín Chicago Tribune của Mỹ.
Các nhà giáo dục từ lâu đã đưa ra nhận xét rằng các bé gái vượt trội hơn các bé trai về khả năng ngôn ngữ, chẳng hạn như trong việc đọc, và giờ đây các nhà nghiên cứu tại Phòng Thí Nghiệm Khoa Học Thần Kinh Nhận Thức Phát Triển của Đại học Northwestern ở Evanston, Mỹ, báo cáo rằng họ đã tìm ra lý do tại sao.
(Ảnh các bé gái trong một giờ học tiếng Anh tại Smartcom EnglishẢnh các bé gái trong một giờ học tiếng Anh tại Smartcom English)
Bộ não của hai giới hoạt động khác nhau trong khi làm bài tập ngôn ngữ và có thể có những tác động trong cách con trai và con gái được giáo dục trong lớp học cũng như cách đàn ông và phụ nữ giao tiếp với nhau.
Doug Burman, một nhà thần kinh học tại phòng thí nghiệm cho biết: “Các khu vực ngôn ngữ của não hoạt động tích cực hơn ở các bé gái. Nhưng thậm chí còn ngạc nhiên hơn, các bé trai và bé gái dựa vào các vùng não bộ khác nhau để xử lý ngôn ngữ một cách chính xác.”
Burman, James R. Booth và Tali Bitan, hiện thuộc Đại học Haifa, đã báo cáo kết quả của họ trên số báo trực tuyến tháng 3 của tạp chí Neuropsychologia.
Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh não Richard Haier của Đại học California tại Irvine nói với ScienceNow Daily News rằng nghiên cứu này “rất phù hợp” với nghiên cứu của ông về sự khác biệt giới tính ở các vùng não được sử dụng trong các bài kiểm tra trí thông minh. “Bài báo này là một phần của việc nâng cao nhận thức rằng không phải tất cả các bộ não đều hoạt động theo cùng một cách,” ông cho biết.
Hoạt động não bộ là mấu chốt
Trong nghiên cứu của Northwestern, 31 bé trai và 31 bé gái từ độ tuổi 9 đến 15 tuổi chụp trong máy chụp cộng hưởng từ chức năng tại Bệnh viện Evanston.
Các học sinh này được trải qua một loạt các bài tập gieo vần và đánh vần trong khi hoạt động của não được đo lường. Các đối tượng đọc các từ trên gương hoặc nghe các từ qua tai nghe.
Sau khi bấm vào nút hiện ra câu trả lời, các đối tượng trẻ tuổi được yêu cầu đưa ra “phán đoán về vần điệu” để cho biết liệu các từ có vần điệu hay không (khớp các cặp từ như “jazz” và “has”) và “phán đoán về chính tả” để cho biết liệu các cặp được đánh vần tương tự nhau hay không (trùng khớp với các cặp từ như “pint” và “mint” chứ không phải “jazz” và “has”).
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các khu vực thử nghiệm được kích hoạt trong não của các bé trai và bé gái, nhưng những bé gái có hoạt động mạnh hơn bé trai ở một số trung tâm ngôn ngữ nhất định. Sự khác biệt này được quan sát ngay cả sau khi xem xét tác động của nhiều yếu tố, bao gồm cả độ chính xác trong các thao tác.
Các nghiên cứu trước đây sử dụng ít biến số hơn hoặc tìm thấy sự khác biệt yếu không thể liên quan trực tiếp đến kỹ năng ngôn ngữ hoặc không có sự khác biệt nào cả.
Nhìn vào các bài kiểm tra IQ về khả năng học ngoại ngữ, các nhà nghiên cứu của Northwestern xác nhận rằng các bé gái nhìn chung vượt trội hơn các bé trai. Họ phát hiện ra rằng các bé trai dựa vào thị giác và thính giác nhiều hơn để đưa ra phán đoán ngôn ngữ, trong khi các bé gái sử dụng các phần não trừu tượng nhiều hơn là giác quan.
(Ảnh học sinh lớp IELTS tại Smartcom English)
Vậy thì nó có tạo ra sự khác biệt gì trong lớp học hay cuộc sống không?
“Đối với các bé gái, việc bạn đọc hay nghe các từ không quan trọng, thông tin sẽ được chuyển đổi thành một ý nghĩa trừu tượng, một suy nghĩ trừu tượng. Đối với các bé trai, nghiên cứu cho thấy rằng thực sự rất quan trọng bất kể chúng đang nghe hay đọc từ. Điều đó sẽ xác định chúng xử lý ngôn ngữ tốt như thế nào.”
Ông nói rằng dựa trên những kết quả này, các bé gái có thể có lợi thế hơn trong các bài kiểm tra, ít nhất là ở trường tiểu học và trung học cơ sở. Các nam sinh có thể gặp khó khăn hơn với các bài kiểm tra viết nhưng lại tốt hơn với các bài kiểm tra miệng trên các bài giảng và bài kiểm tra viết để đọc.
Lời khuyên dành cho các bậc phụ huynh
NU’s Burman nói thêm: “Điều quan trọng đối với cha mẹ của các bé trai là hãy thật sự nỗ lực dạy chúng cả bằng việc nhìn và nghe. Nếu bạn đang đọc truyện cho con trai nghe, có thể sẽ tốt hơn cho các bé trai nếu chúng có một cuốn truyện tranh, trong đó họ có thể củng cố những gì chúng nghe với những gì chúng nhìn thấy.”
Ông cho biết cần nghiên cứu thêm để xác định xem các bé gái có lợi thế phát triển hay không và liệu các bé trai có bắt kịp được không.
Nhưng có một số bằng chứng cho thấy sự khác biệt có thể tồn tại ở tuổi trưởng thành. Nếu đúng như vậy, điều này có thể giúp giải thích tại sao đàn ông có xu hướng chỉ đường đơn giản, trong khi phụ nữ cung cấp chỉ đường chi tiết với các mốc và các tín hiệu khác cho mỗi ngã rẽ.
“Vợ tôi làm thế suốt và điều đó khiến tôi phát điên,” Burman nói. “Đàn ông có thể có khuynh hướng phản ứng, có mối liên hệ với một đối tượng trực quan hoặc một từ trực quan, cho phép họ phản ứng nhanh chóng. Việc có thêm thông tin chỉ có tác dụng làm xao lãng. Đối với phụ nữ, mọi thứ đang được xử lý dưới dạng ngôn ngữ. Họ có càng nhiều thông tin liên quan đến một khái niệm trừu tượng về nơi họ nên hướng tới, thì thông tin đó càng hữu ích cho họ.”
Thông tin liên hệ
Trụ sở chính: Smartcom English – Tầng 4 nhà 29T2, đường Hoàng Đạo Thúy, khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
4 phong cách học của trẻ em: Hiểu đúng để giúp trẻ học dễ dàng
Các nghiên cứu giáo dục đã chỉ ra mỗi đứa trẻ có một phong cách học tập khác nhau. Thế giới này là hoàn toàn mới mẻ với trẻ em, trẻ em nhìn thế giới và học theo cách riêng của chúng, và thường khác khá xa so với suy nghĩ đã định hình của người lớn, vốn đã được đào tạo hàng chục năm ở các trường học. Chính vì vậy mà kết quả học tập cũng khác nhau nếu ta dùng cùng một bài kiểm tra để đánh giá những phong cách học khác nhau ấy.
Thực tế cho thấy nhiều bậc phụ huynh cảm thấy lo ngại vì con mình không thể hiện tốt bằng những đứa trẻ khác qua những bài kiểm tra, nhưng khi hiểu về phong cách học đa dạng của trẻ rồi thì chúng ta sẽ không còn những lo lắng không hợp lý đó nữa, thay vì vậy các phụ huynh lại có cách tác động phù hợp tới quá trình học tập của trẻ, giúp con mình tiến bộ nhanh hơn.
Smartcom English đã tổng hợp các nghiên cứu của các nhà khoa học và giáo dục Mỹ về phong cách học của trẻ em, được chia thành 4 loại cơ bản như những phân tích dưới đây.
Trẻ em học như thế nào?
Mỗi đứa trẻ đều có một chiến lược tự nhiên mà chúng sử dụng để ghi nhớ thông tin hiệu quả phù hợp với chúng. Trong khi học, một số em ghi chép, một số lập biểu đồ thì một số thích nghe giảng hơn. Vì không có cách học nào phù hợp với tất cả học sinh nên các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu để hiểu cách học đa dạng của trẻ em.
Dưới đây là các loại hình học tập khác nhau mà các nhà khoa học đã phân biệt.
Một trong những lý thuyết phổ biến mà các nhà khoa học đã phát triển để giúp trẻ em học tập được gọi là mô hình VARK. Từ viết tắt VARK là viết tắt của các phương thức cảm giác Visual (học bằng nhìn), Auditory (học bằng nghe), Read/Write (học bằng đọc và viết) and Kinesthetic (học bằng vận động) được sử dụng cho việc học. Mô hình này được đề xuất bởi Fleming và Mills để phản ánh trải nghiệm của học sinh và giáo viên vào năm 1992.
Hầu hết trẻ em đều học với sự kết hợp của bốn phong cách này, nhưng chúng thường có một phong cách học tập nổi trội hơn. Mỗi phong cách này có một cách giảng dạy bổ sung cho nhau. Bây giờ, chúng ta hãy xem các đặc điểm của từng phong cách và cách tận dụng chúng một cách tốt nhất để khiến trẻ học hỏi.
Dưới góc độ của mình, các giáo viên Smartcom English cũng sẽ thảo luận về cách xác định trẻ em trên cơ sở nhu cầu học tập của chúng và áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp cho trẻ.
Phong cách học trực quan
Người học trực quan tiếp nhận thông tin một cách trực quan, thông qua bản đồ, đồ thị, sơ đồ và biểu đồ. Tuy nhiên, họ không hẳn phản ứng tốt với ảnh hoặc video. Họ thích tiếp thu thông tin của mình bằng cách sử dụng các phương tiện trực quan khác nhau như hoa văn và hình dạng.
Cách tốt nhất để trình bày thông tin cho những đứa trẻ như vậy là cho chúng thấy mối quan hệ giữa các ý tưởng khác nhau một cách trực quan. Ví dụ, khi giải thích một quy trình khoa học, nó có thể được thực hiện bằng cách sử dụng biểu đồ, hình vẽ.
Làm thế nào để xác định người học trực quan?
Người học trực quan thích quan sát và phân tích những thứ như hình ảnh, sơ đồ và biểu đồ thể hiện thông tin theo thứ tự quan trọng. Bố mẹ và thầy cô giáo có thể dễ dàng nhận biết những người học trực quan bằng cách chú ý đến những học sinh đang vẽ nguệch ngoạc, lập danh sách trong lớp hoặc chăm chỉ ghi chép. Hoặc bố mẹ có thể xem lại vở ghi của con, các tờ giấy nháp của con để tìm kiếm trên đó những hình vẽ nguệch ngoạc có thường xuyên xuất hiện hay không. Nếu thường xuyên có những hình vẽ trên giấy, trên vở của con… thì đấy là bằng chứng cho thấy đứa trẻ thích học bằng hình ảnh trực quan hơn phong cách học khác.
Làm thế nào để dạy chúng?
Những đứa trẻ này thích học bằng mắt, nên cần có “kho dữ liệu” bằng tranh ảnh, video phù hợp với việc dạy kiến thức cho chúng. Nếu bạn đang sử dụng bảng trắng, bảng thông minh hoặc thuyết trình, hãy đảm bảo rằng đứa trẻ đó có đủ thời gian để xử lý và tiếp thu thông tin hình ảnh. Khi có thể, trẻ nên có quyền truy cập vào các tài liệu phát tay bổ sung trình bày chi tiết về chủ đề thông qua hình ảnh rõ ràng bất cứ khi nào có thể.
Ngoài ra, hãy cho phép những học sinh này vẽ tranh, biểu đồ hoặc hình vẽ nguệch ngoạc về những gì họ đang học để củng cố khả năng ghi nhớ. Việc trẻ tô vẽ trong quá trình học không có nghĩa là chúng đang bị mất tập trung, mà đó là cách mà chúng cảm thấy việc học trở nên thoải mái hơn. Do đó cha mẹ và thầy cô không nên quát mắng khi trẻ vừa học lại vừa vẽ những hình ảnh không liên quan đến bài học, mà thay vì vậy là hãy cung cấp những bài học bằng hình ảnh nhiều hơn nữa.
Phong cách học bằng thính giác
Người học thính giác học tốt hơn thông qua nghe hoặc nói. Nói to kiến thức và cho trẻ thảo luận hoặc được trình bày sẽ giúp trẻ hiểu và ghi nhớ các khái niệm. Những đứa trẻ như vậy học thông qua các bài giảng và thảo luận nhóm. Các em sẽ có thể tiếp thu tốt từ việc lặp lại các bài học, ghi âm các bài giảng và các hoạt động nhóm nơi các bạn cùng lớp giải thích các ý tưởng.
Làm thế nào để xác định người học bằng thính giác?
Những người học bằng thính giác thích học các chủ đề được trình bày thông qua âm thanh. Những đứa trẻ như vậy tích cực tham gia vào các bài giảng. Bạn có thể thấy chúng gật đầu đồng ý hoặc đặt câu hỏi thường xuyên thay vì ghi chú bằng văn bản. Ngoài ra, những đứa trẻ như vậy có thể đọc chậm và đọc to cho chính chúng nghe. Chúng cũng có thể lặp lại những điều bố mẹ và thầy cô nói với bản thân để giúp ghi nhớ.
Làm thế nào để dạy chúng?
Khi bạn đang giảng bài hoặc đang giải thích những vấn đề trong gia đình với con, hãy đảm bảo rằng bạn lôi kéo những đứa trẻ như vậy vào cuộc trò chuyện. Hãy đặt câu hỏi để con trả lời nhiều hơn, hoặc yêu cầu trẻ làm những việc như trình bày chi tiết bằng lời một khái niệm mới mà con vừa học được và hỏi conn những câu hỏi tiếp theo trong khi cho con thời gian cần thiết để trả lời. Thảo luận nhóm, thuyết trình, xem video hấp dẫn và cả những bản ghi âm… là những cách tuyệt vời khác để thu hút người học thiên về thính giác trong lớp học.
Phong cách học đọc/viết
Một số trẻ em tiếp thu thông tin tốt nhất khi nó ở dạng từ ngữ, cho dù đó là bằng cách viết ra giấy hay đọc nó (gồm cả đọc nhẩm và đọc thành tiếng). Đối với những đứa trẻ học bằng phong cách đọc/viết, văn bản có sức mạnh hơn bất kỳ hình thức thể hiện bằng hình ảnh hoặc âm thanh nào của một ý tưởng.
Những đứa trẻ này thường thực hiện rất tốt các bài tập viết. Có nhiều cách khác nhau để khiến những người học như vậy tham gia và hiểu một bài học nhất định. Ví dụ, tốt nhất là yêu cầu trẻ mô tả biểu đồ và sơ đồ bằng các câu viết, làm bài kiểm tra viết về các chủ đề hoặc giao cho con bài tập viết.
Làm thế nào để xác định người học đọc/viết?
Trẻ có phong cách học đọc/viết thích chữ viết hơn. Họ bị thu hút bởi sách giáo khoa, tiểu thuyết, bài báo, tạp chí và bất cứ thứ gì nặng về văn bản. Tương tự như những người học trực quan, bạn có thể tìm thấy ở những người học đọc và viết bằng cách chú ý đến những học sinh ghi chú tỉ mỉ, tham khảo từ điển để học từ mới hoặc sử dụng công cụ tìm kiếm trực tuyến để tìm câu trả lời cho câu hỏi của chúng.
Làm thế nào để dạy chúng?
Những học sinh như vậy thích các phương pháp truyền thống hơn để phân phối chủ đề. Vì vậy, hãy yêu cầu họ đọc sách giáo khoa, viết bài luận và thực hiện nghiên cứu chuyên sâu. Tuy nhiên, điều quan trọng là đảm bảo rằng những đứa trẻ như vậy có đủ thời gian để tiếp thu tài liệu khóa học bằng văn bản. Họ cũng cần được tạo mọi cơ hội để viết ý tưởng của mình ra giấy hoặc thiết bị kỹ thuật số.
Phong cách học vận động
(Lớp học tiếng Anh bằng vận động cơ thể theo câu chuyện tại Smartcom English)
Người học vận động là những cá nhân thích học bằng cách làm, hành động bằng cơ thể. Trẻ thích trải nghiệm thực tế. Chúng thường tiếp xúc nhiều hơn với thực tế và kết nối với nó nhiều hơn, đó là lý do tại sao chúng hay muốn sờ, chạm vào đồ vật để hiểu điều gì đó tốt hơn.
Cách tốt nhất để trình bày thông tin mới cho người học vận động là thông qua kinh nghiệm cá nhân, thực hành, ví dụ hoặc mô phỏng. Chẳng hạn, họ có thể nhớ một thí nghiệm bằng cách tự tạo lại nó.
Trong giảng dạy ngôn ngữ, trẻ thích vận động học theo phương pháp TPR (Total Physical Response) sẽ đạt kết quả cao nhất. Vì bằng cách nghe mệnh lệnh và phản hồi các mệnh lệnh hoặc yêu cầu từ giáo viên ngoại ngữ, trẻ vận động cơ thể để thực hiện câu lệnh đó và nó giúp trẻ thấm sâu ngoại ngữ đó vào trí nhớ, và câu lệnh cũng như những phản hồi đó sẽ nhanh chóng trở thành năng lực ngôn ngữ của trẻ. Sau khi vận động hoặc nhìn bạn khác thể hiện bằng các động tác cơ thể để phản hồi lại yêu cầu của giáo viên (bằng ngoại ngữ), trẻ sẽ dễ dàng kể lại bằng ngoại ngữ những gì đã thấy, điều này giúp trẻ nghe và nói ngoại ngữ thành thạo hơn những người khác.
Làm thế nào để xác định người học vận động?
Những cá nhân như vậy là những người học bằng “xúc giác”. Chúng thích thực hiện các sự kiện hoặc sử dụng tất cả các giác quan của mình trong khi học. Những kiểu người học này rất dễ tìm thấy, vì chúng thường gặp khó khăn khi ngồi yên và có thể cần nghỉ giải lao thường xuyên trong thời gian học tập nặng nề.
Làm thế nào để dạy chúng?
Đảm bảo sự tham gia tích cực cho những đứa trẻ như vậy. Ví dụ: nếu bạn đang dạy về Shakespeare, hãy để họ diễn một cảnh với một số bạn học tập trung vào vận động học của các con. Thầy cô và cha mẹ cũng có thể dạy con thông qua các trò chơi học tập trên SplashLearn để khuyến khích những kiểu người học này sử dụng tất cả các giác quan của họ tại các điểm khác nhau trong bài học.
Lời kết
Hiểu các loại phong cách học tập khác nhau có thể tác động mạnh mẽ đến cách phụ huynh và giáo viên xử lý con cái hoặc học sinh của mình.
Do đó, hãy xác định cách một đứa trẻ hoặc học sinh học tốt nhất và điều chỉnh các bài học theo nhu cầu riêng của đứa trẻ hoặc học sinh đó. Nó có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng kết nối với đối tượng con học. Và hãy nhớ rằng, những cách học này không kết thúc ở nhà hoặc lớp học. Vì vậy, hãy đảm bảo kết nối việc học của họ với các tình huống thực tế trong cuộc sống hàng ngày của con!
Cách đây một thời gian, thấy đứa con lớn của tôi bắt đầu bước vào cấp 2 theo chương trình Cambridge, loay hoay đọc môn khoa học bằng tiếng Anh và cắm đầu tra từ điển những từ vựng mà nó không biết. Nhìn vào những nghĩa mà thằng bé viết bên cạnh các từ tiếng Anh, tôi vội bảo con dừng lại. Vì có vẻ như con tra nghĩa của từ mà không thực sự hiểu bài đọc mà con đang đọc, nên những nghĩa con viết ra giấy không đúng với nghĩa trong bối cảnh của bài học.
Tôi khuyên con: “Tốt nhất con hãy dịch nhẩm ra miệng toàn bộ những gì con đang đọc sang tiếng Việt đi.”
Thằng bé cãi: “Nhưng thầy giáo nước ngoài của con bảo con phải học tiếng Anh bằng tiếng Anh thì mới nhanh, và đó là một thói quen tốt.”
Tôi ôn tồn nhưng kiên trì yêu cầu: “Con cứ thử dịch một đoạn ngắn trong sách con đọc sang tiếng Việt cho bố nghe xem nào?”
Thằng bé miễn cưỡng và cố gắng dịch một đoạn cho tôi nghe. Nghe một lúc, tôi hỏi con: “Nghĩa của từ Cultivation trong bài con đọc là gì?”
Thằng bé trả lời: “Là cái gì đó liên quan đến trồng trọt.”
Tôi nói: “Không phải đâu, từ đó có nghĩa là Thâm Canh đấy. Mà “thâm canh” là gì trong tiếng Việt con có biết không?”
Thằng bé trả lời rằng nó không biết thực sự từ “thâm canh” là gì trong tiếng Việt. Tôi thể hiện sự lo lắng trên nét mặt và giải thích với con: “Ngay cả từ đó trong tiếng mẹ đẻ của con thực sự có nghĩa là gì con còn không nắm được, thì làm sao con có thể hiểu đúng từ đó và rộng ra là cả một bài giảng về khoa học bằng tiếng Anh? Và như vậy việc đọc và học bài của con sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì con chưa hiểu đầy đủ vấn đề mà con đang đọc”.
Giải thích từ thâm canh cho con bằng tiếng Việt xong, tôi yêu cầu con dịch tiếp tục toàn bộ bài đọc đó sang tiếng Việt. Mỗi khi có khái niệm khó tôi đều hỏi lại xem con có thực sự hiểu không, và nếu có khái niệm nào không hiểu thì hãy tra cứu nó trên Google trước khi hỏi bố. Vì mục đích của việc chủ động tra cứu là con sẽ không phải phụ thuộc vào bố sau này. Và sau khi mất rất nhiều công sức tra cứu dịch sang tiếng Việt những khái niệm mà con không chắc là mình đã hiểu đúng, con cảm thấy hiểu sâu hơn tài liệu đang đọc rất nhiều và thực sự dễ nhớ hơn.
Thằng bé tiếp tục làm như vậy với tất cả các bài đọc của môn khoa học và cả các môn bằng tiếng Anh khác. Một thời gian sau, tốc độ đọc hiểu của nó tăng vọt, khả năng tranh luận cũng tốt hơn, và tự tin hơn, đồng thời nó thấy việc nghe giảng bài của thầy nước ngoài dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ sâu hơn, viết lách cũng cải thiện rõ rệt.
Sau khi thấy việc dịch và hiểu rõ khái niệm của các từ vựng và thuật ngữ tiếng Anh bằng tiếng Việt lại có tác dụng cải thiện rất mạnh tốc độ sử dụng cả 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết bằng tiếng Anh của mình, thằng bé hỏi tôi: “Tại sao con dịch sang tiếng Việt mà lại giỏi tiếng Anh hơn? Và tại sao bố nói ngược lại với lời khuyên của thầy nước ngoài của con, mà cuối cùng con lại thấy bố đúng?”
Tôi trả lời: “Tốc độ hiểu (nghe, đọc) và phản xạ lại (nói, viết) tiếng Anh của con phụ thuộc vào việc hiểu đúng, hiểu sâu các khái niệm, chứ không phải là do con biết qua loa về những gì con đang học. Có thể ban đầu việc đọc và dịch sang tiếng Việt làm con mất thời gian hơn bạn bè, nhưng chỉ một thời gian sau thói quen đọc sâu, hiểu kỹ ấy đã giúp con vượt lên chính mình và vượt lên cả bạn bè của con nữa.”
“Yếu tố quyết định ở đây là HIỂU SÂU những gì mình phải học. Còn thầy giáo nước ngoài của con khuyên con học khái niệm đó bằng tiếng Anh thì không có gì sai cả, vì con cũng cần phải biết điều đó được giải thích bằng tiếng Anh như thế nào. Chỉ có điều, khi tra cứu khái niệm bằng tiếng Anh, con sẽ vội vàng sử dụng chúng mà chưa kịp hiểu hết nghĩa, hoặc chưa thực sự nhớ được chúng, cho nên việc con không thể ghi nhớ được thông tin dần dần sẽ khiến con đi vào trạng thái hiểu lơ mơ và không thực sự giải thích được tường tận những gì mình học. Việc hiểu nông, học vội bằng tiếng Anh sẽ thành thói quen xấu, ảnh hưởng tệ hại cả tương lai học hành của con đấy.”
Việc đọc tiếng Anh và rèn cho con khả năng trình bày lại bằng cả hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh thực chất chính là quá trình học sâu, hiểu kỹ và hơn nữa nó rèn cho con khả năng trình bày lại kiến thức vừa học theo cách hiểu của mình. Điều này rất tốt không chỉ cho tư duy của con, mà còn thành một thói quen hiệu quả là học cái gì cũng nghiêm túc, cẩn thận và hình thành nên khả năng trình bày một cách mạch lạc kiến thức của mình.
By: Nguyễn Anh Đức
Lời kết: Với bài viết “Tại sao trẻ em nên dịch sang tiếng Việt khi học tiếng Anh?” Tác giả hy vọng bài viết này góp thêm một góc nhìn sâu sắc trong quá trình đồng hành với con của các phụ huynh. Quan điểm đọc và dịch sang tiếng mẹ đẻ có giá trị nhất ở giai đoạn học chậm, học để nghiên cứu thông tin bằng tiếng Anh, chứ không nên áp dụng ở giai đoạn học để làm bài thi tiếng Anh (ESL) hoặc bài thi các kiến thức khác sử dụng tiếng Anh (ESP).
Nền tảng vững chắc, định hướng học thuật chuẩn Cambridge
👶 Đối tượng học viên
Lứa tuổi: 7 – 11 tuổi.
🎯 Cam kết đầu ra
Mỗi năm học tăng thêm 1 trình độ Cambridge. Học sinh có thể thi chứng chỉ Cambridge tại Hội đồng Anh.
📆 Thời lượng và lịch học
⏳ 144h/khóa/năm (48 tuần) với 1,5h/buổi, 2 buổi/tuần (hoặc 3h/buổi học cuối tuần).
🕒 1,5h/buổi, 2 buổi/tuần (hoặc 3h/buổi cuối tuần).
📚 Nội dung học chính
Tiếng Anh Cambridge và định hướng học thuật. Trình độ đào tạo từ Starters (A0), Movers (A1), Flyers (A2 trẻ em), KET (A2 thiếu niên), PET (B1), FCE (B2)
👩🏫 Giáo viên và phương pháp
👨🏫 Giáo viên: 50% Việt Nam, 50% nước ngoài.
📖 Phương pháp: TPRS, Proficiency-based learning, Communicative Method, Project-based learning.
📖Giáo trình: Giáo trình tiếng Anh Cambridge (UK) và Giáo trình tổng hợp của Smartcom.
🛠️ Hỗ trợ: Mỗi lớp có 1 giáo viên chủ nhiệm kèm cặp và chữa bài, cập nhật báo cáo theo từng buổi học tới phụ huynh.
💻 Học kết hợp
Blended Learning và Flipped Classroom. Học sinh được trang bị hệ thống LMS để học online 24/7 song song với học trên lớp.
💵 Học phí
Siêu ưu đãi, chỉ dưới 20 triệu VNĐ/năm học. Liên hệ ngay để nhận thông tin khuyến học qua 024.2242.7799.
Trẻ em nên học tiếng Anh ở tuổi nào?
Các nghiên cứu về học ngôn ngữ ở trẻ em của trường Đại học Harvard cho thấy rằng trẻ em bắt đầu phát triển khả năng học sinh ngữ ngay từ tháng thứ 7 khi còn trong bào thai. Khả năng hấp thụ ngôn ngữ của trẻ em là tốt nhất khi còn bé và giảm dần khi đến 14 tuổi. Ở tuổi còn bé, trẻ con có độ nhạy cảm ngôn ngữ cao hơn hẳn người lớn khi có thể phân biệt hơn 70 âm vị khác nhau, trong khi người lớn chỉ có thể phân biệt dưới 50 âm vị.
Chính vì vậy, trẻ em học tiếng Anh càng sớm thì hiệu quả học sẽ cao hơn, và khả năng trở nên thành thạo tiếng Anh gần như người bản ngữ sẽ cao hơn.
Tuy nhiên, trẻ em dưới 3 tuổi thường chưa có khả năng nghe giảng trên lớp học một cách hiệu quả, nên Smartcom English khuyến nghị các cha mẹ nên cho trẻ từ 4 tuổi trở lên mới nên đến lớp học tiếng Anh. Ở giai đoạn trẻ chưa biết chữ, Smartcom áp dụng phương pháp giáo dục sớm của Mỹ để kích thích tư duy ngôn ngữ và tư duy logic của trẻ, giúp trẻ có thể giao tiếp bằng tiếng Anh, phát triển năng lực đọc và viết bằng tiếng Anh từ sớm.
Dựa vào những nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ của ĐH Harvard và ĐH Cambridge, Smartcom English thiết kế chương trình đào tạo tiếng Anh chuyên biệt cho trẻ em gồm khóa học tiếng Anh và giáo dục sớm cho trẻ từ 4 đến 7 tuổi, và khóa học tiếng Anh Cambridge theo định hướng tiếng Anh học thuật cho trẻ em từ 8 đến 12 tuổi.
Giới thiệu chương trình tiếng Anh trẻ em theo chuẩn Cambridge tại Smartcom
Chương trình tiếng Anh trẻ em của Smartcom được xây dựng theo định hướng tiếng Anh học thuật, nhằm giúp học sinh vừa thành thạo tiếng Anh giao tiếp, vừa tạo nền tảng kiến thức và năng lực tiếng Anh học thuật để chuẩn bị sẵn sàng cho quá trình học tập tiếng Anh học thuật chuyên sâu về sau như IELTS, TOEFL, hoặc sử dụng tiếng Anh để học các môn học khác như IGCSE, A-Level, SAT.
Thực tế cho thấy hiện nay trẻ em có nền tảng tiếng Anh tốt thường có những cơ hội vượt trội so với bạn bè khi thi vào các trường chuyên, trường điểm hoặc những trường dạy theo chuẩn Cambridge mà có yêu cầu cao về đầu vào. Các chương trình khảo sát, đánh giá trình độ tiếng Anh đầu vào của học sinh ngay từ bậc tiểu học, rồi đến bậc THCS và THPT ở Việt Nam ngày nay đều đi theo hướng tiếng Anh học thuật với cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, với những bài kiểm tra tương đối khó.
Bên cạnh những bài kiểm tra ngữ pháp, từ vựng phức tạp, học sinh còn phải làm các bài đọc và bài viết có đòi hỏi cao về năng lực tư duy học thuật. Một số trường còn có bài phỏng vấn chuyên biệt bằng tiếng Anh để tuyển chọn học sinh. Mặt khác, những học sinh Việt Nam giỏi tiếng Anh ngày nay có nhiều cơ hội dự thi và giành những suất học bổng toàn phần ngay từ bậc học THPT ở những nước tiên tiến. Chính vì vậy, việc học tiếng Anh chỉ nhằm đạt mục tiêu giao tiếp thành thạo đã trở nên lỗi thời, mà học sinh cần học tiếng Anh cao cấp hơn, đó là tiếng Anh theo định hướng học thuật.
Chương trình tiếng Anh theo định hướng học thuật của Smartcom có đặc điểm là:
Đào tạo theo chuẩn Cambridge với các trình độ từ Starters (A0), Movers (A1), Flyers (A2 – tuổi thiếu nhi), KET (A2 – tuổi thiếu niên), PET (B1), đến FCE (B2).
Kiến thức tiếng Anh học thuật (chủ yếu gồm kiến thức khoa học xã hội như văn học, địa lý, lịch sử) được lồng ghép vào nội dung các bài học tiếng Anh một cách vui vẻ, tự nhiên.
Chương trình được xây dựng kết nối thẳng lên IELTS để học sinh có thể dễ dàng thi lấy chứng chỉ IELTS điểm cao khi đến khoảng 15 tuổi. Cụ thể là sau khi học sinh học xong trình độ PET hoặc FCE là có thể chuyển sang luyện thi IELTS được ngay mà không gặp bất cứ khó khăn gì.
(Bảng mô tả các trình độ tiếng Anh theo Cambridge được đào tạo tại Smartcom)
Các phương pháp đào tạo tiêu biểu
Trẻ em có cách học tiếng Anh khác xa so với người lớn. Như Giáo sư Noam Chomsky, cha đẻ của phương pháp dạy tiếng Anh hiện đại, đã chỉ ra trẻ dưới 14 tuổi có bộ máy học sinh ngữ tự nhiên trong não, sau 14 tuổi thì bộ máy này sẽ biến mất, vì vậy trẻ con học ngoại ngữ nhanh hơn người lớn rất nhiều. Tuy nhiên nếu không áp dụng đúng phương pháp dạy cho trẻ em, thì hầu như trẻ không đạt được tiến bộ như mong đợi. Chính vì thế, dạy tiếng Anh cho trẻ em được coi như một chuyên ngành sâu, đòi hỏi những phương pháp chuyên biệt như:
Học bằng vận động toàn cơ thể theo câu chuyện (TPRS: Total Physical Response – Story Telling): Đây là phương pháp đặc thù nổi bật của Smartcom. TPRS cho phép trẻ được vận động, được chơi theo nội dung tiếng Anh của từng câu chuyện được xây dựng theo bối cảnh và theo bậc thang ngữ liệu (graded). Bằng cách này, trẻ học thoải mái, hấp thu tiếng Anh theo cách tự nhiên như trẻ em bản ngữ từ thấp lên cao, và luôn duy trì được hứng thú trong học tập.
Học bằng làm dự án (PBL: Project-based learning): Smartcom áp dụng phương pháp PBL tiên tiến này, cho học sinh tự khám phá một chủ đề bất kỳ theo nhóm hoặc cá nhân bằng cách tự nghiên cứu và viết báo cáo, thuyết trình lại kết quả nghiên cứu của mình. Phương pháp này giúp học sinh làm quen với việc nghiên cứu chuyên sâu và hình thành năng lực đọc, nghe, xem, viết và thuyết trình một cách chủ động, tự tin, đồng thời có thể ghi nhớ rất lâu bền những gì bản thân mình đã học và của các bạn học khác trình bày.
Học bằng trò chơi (Gamification): Smartcom xây dựng hệ thống các trò chơi giáo dục tương tác ngay trên lớp học, cung cấp cho học sinh những kịch bản thi vui nhộn như những trò chơi (games) để học sinh luôn có những giờ học háo hức và bùng nổ, nhưng lại giàu tính cạnh tranh, khiến các em hấp thụ tiếng Anh tối đa khả năng của mình.
Học để thành thục (FBI: Fluency-based instruction): Smartcom chọn phương pháp này thay vì chỉ hướng tới giao tiếp (communicative teaching method) với mục đích hướng đến các kỳ thi chứng chỉ Cambridge và sau này là IELTS, việc học tiếng Anh vì thế mà không chỉ vui vẻ và giao tiếp tốt, cần đề cao sự chính xác khi làm các bài tập và khả năng thể hiện bản thân ở cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết một cách tối đa. Phương pháp này đòi hỏi học sinh phải làm bài tập về nhà như là một điều bắt buộc để đảm bảo thành thạo những gì đã được dạy học trên lớp.
Tổ chức đào tạo
Học sinh tham gia khóa học tiếng Anh Cambridge tại Smartcom sẽ học theo quy trình như sau:
Kiểm tra đầu vào để xếp lớp dựa trên thang điểm Cambridge, từ A0 đến B2. Căn cứ điểm đầu vào, Smartcom sẽ xếp lớp theo trình độ tiếng Anh của học sinh.
Học 1 tuần 2 buổi học trên lớp: Buổi học 1 do giáo viên Việt Nam dạy, buổi học 2 do giáo viên nước ngoài dạy. Giáo viên Việt Nam chuyên phụ trách kiến thức ngữ pháp, từ vựng, kỹ năng đọc và kỹ năng viết. Giáo viên nước ngoài phụ trách kỹ năng nghe, nói và học theo câu chuyện.
Giáo viên chủ nhiệm lớp: Giáo viên chủ nhiệm chính là các thầy cô giáo người Việt Nam vừa dạy một phần nội dung của lớp học, vừa hỗ trợ học sinh trực tiếp trong giờ học với giáo viên bản ngữ. Sau giờ học trên lớp, giáo viên chủ nhiệm sẽ tiếp tục hỗ trợ học sinh sau giờ học khi học sinh cần giải đáp các thắc mắc, đồng thời giáo viên chủ nhiệm cũng là người giám sát việc học trực tuyến và làm bài tập trên hệ thống LMS của học sinh. Giáo viên chủ nhiệm và cán bộ giáo vụ sẽ lập các nhóm Zalo với phụ huynh của từng lớp để đảm bảo kết nối và chia sẻ thông tin nhanh chóng.
Kiểm tra tiến bộ học tập: Việc kiểm tra tiến bộ sẽ được thực hiện định kỳ 3 tháng một lần, sau 6 tháng học sinh làm bài kiểm tra giữa khóa, và sau 1 năm học sinh làm bài kiểm tra cuối khóa. Các bài kiểm tra này sử dụng đề thi Cambridge với toàn bộ 4 kỹ năng. Ngoài ra các điểm số học trên hệ thống LMS và các bài tập thuyết trình, bài làm dự án, và bài tập thực hành của học sinh cũng được sử dụng để đưa vào kết quả theo dõi, đánh giá tiến bộ của học sinh.
Sĩ số lớp học: Lớp học có tối đa là 20 học sinh.
Phụ huynh có thể yêu cầu cung cấp thông tin học tập của con thông qua giáo viên chủ nhiệm lớp hoặc giáo vụ hàng tuần.
Công nghệ hỗ trợ học tập
Học sinh được cung cấp 1 tài khoản học online trên hệ thống LMS tại trang junior.smartcom.vn và 1 App học tiếng Anh khoa học.
Lộ trình học tiếng Anh hướng tới tương lai chứng chỉ IELTS
4 tuổi: Pre-K1 học chữ viết, số, logic theo câu chuyện và nói tiếng Anh chuẩn theo phonics.
5 tuổi: Pre-K2 học đọc sớm, học viết sớm, toán, tư duy logic, tư duy sáng tạo, và nói tiếng Anh theo phonics.
6 tuổi: học đọc sớm, học viết sớm, toán, tư duy logic, tư duy sáng tạo, và nói tiếng Anh theo phonics.
7 tuổi: Cambridge Starters: học 4 kỹ năng, từ vựng và ngữ pháp theo chuẩn Cambridge trình độ A0.
8 tuổi: Cambridge Movers: học 4 kỹ năng, từ vựng và ngữ pháp theo chuẩn Cambridge trình độ A1.
9 tuổi: Cambridge Flyers: học 4 kỹ năng, từ vựng và ngữ pháp theo chuẩn Cambridge trình độ A2.
10 tuổi: Cambridge KET: học 4 kỹ năng, từ vựng và ngữ pháp theo chuẩn Cambridge trình độ A2 định hướng học thuật.
11 tuổi: Cambridge PET: học 4 kỹ năng, từ vựng và ngữ pháp theo chuẩn Cambridge trình độ B1 định hướng học thuật.
12 tuổi: Cambridge FCE: học 4 kỹ năng, từ vựng và ngữ pháp theo chuẩn Cambridge trình độ B2 tiếng Anh học thuật, và chuẩn bị cho luyện IELTS.
Chú ý: Những học sinh có lực học giỏi thì có thể học vượt lứa tuổi trong lộ trình nêu trên.
Trong kỷ nguyên công nghệ và đặc biệt là giai đoạn dịch bệnh, việc trẻ em dành hàng giờ trước màn hình thiết bị điện tử đã trở thành điều khó tránh khỏi – thậm chí là cần thiết. Tuy nhiên, khi cuộc sống đang dần trở lại bình thường, cha mẹ đã đến lúc nghĩ tới thời gian ngồi trước màn hình của con cái. Dựa trên nghiên cứu và lời khuyên từ chuyên gia của Đại học Harvard, bài viết dưới đây sẽ giúp cha mẹ chuyển từ tư duy “hạn chế thời gian dùng màn hình” sang cách tiếp cận linh hoạt, thực tế và mang tính giáo dục hơn.
1. Vài điều về lời khuyên của Sarah Krongrard
Lời khuyên từ Harvard cho cha mẹ với tư duy giới hạn thời gian sử dụng thiết bị điện tử của con, khi mà dịch bệnh đã khiến cho việc con phải sử dụng thiết bị điện tử để học tập và giải trí tại nhà là bắt buộc.
Thời gian ngồi trước màn hình các thiết bị điện tử (gồm: máy tính cá nhân, máy tính bảng, điện thoại di động và TV) là một chủ đề tranh luận phổ biến, đầy thách thức và thường gây chia rẽ giữa các bậc cha mẹ và người chăm sóc trẻ, vốn dĩ đang vật lộn để xác định cách điều chỉnh tốt nhất việc sử dụng công nghệ của trẻ em trong một thế giới đang bị lấp đầy bởi các thiết bị điện tử và công nghệ thông tin.
Trong bối cảnh phong tỏa và giãn cách do COVID-19, nhiều phụ huynh và giáo viên đã điều chỉnh các quy tắc về thời gian sử dụng thiết bị cho trẻ em, điều này thường dẫn đến việc các bậc cha mẹ mặc cảm lo lắng đặt câu hỏi về việc con họ đã dành nhiều giờ để xem Peppa Pig hoặc lướt Facebook hay Instagram… ngoài việc đi học từ xa, lớp học múa ba lê ảo hay dự tiệc sinh nhật qua Zoom. Đối với nhiều người, các quy định về thời gian sử dụng màn hình điện tử đối với con cái đã bị phá vỡ, thậm chí biến mất khi công nghệ đóng vai trò là kết nối duy nhất với thế giới bên ngoài trong khi dịch bệnh lan tràn.
Bây giờ, những giáo viên và những nhà giáo dục phải tự hỏi chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu đây? Liệu chúng ta có tiếp tục với việc cho trẻ thoải mái sử dụng thiết bị điện tử để xem phim và học hành, sau khi xem xét vai trò của nó trong hơn một năm rưỡi qua, hay chúng ta tiếp tục thực hiện các hạn chế về việc sử dụng thiết bị điện tử này với trẻ em? “Bình thường mới” khi nói đến thời gian ngồi trước màn hình điện tử là gì?
Để có sự tương tác với các thiết bị này một cách công tâm hơn, hãy coi việc học tập trong dịch bệnh này như một cơ hội để tạm dừng, suy ngẫm và hình dung lại mối quan hệ của con trẻ với màn hình. Dưới đây là bốn khuyến nghị để chuyển từ tập trung vào hạn chế sử dụng màn hình sang cách tiếp cận tích hợp phù hợp hơn:
2. Thay đổi cách tư duy từ “thời gian ngồi trước màn hình” sang “xem gì trên màn hình”
Tập trung vào Cách thức và Lý do con bạn tương tác với màn hình và bớt căng thẳng về lượng thời gian chúng sử dụng phương tiện truyền thông. Hãy xem bối cảnh sử dụng màn hình của các con là gì? Ví dụ, khi dành thời gian nhìn chằm chằm vào điện thoại, con bạn có thể đang thảo luận về chuyện tình cảm với một người bạn, chủ đề này ít nói về công nghệ mà lại tập trung nhiều hơn về mối liên kết được xây dựng thông qua cuộc trò chuyện dựa trên văn bản? Khi con đang say sưa xem truyền hình trực tuyến, chúng có đang xem xét mối liên hệ giữa những gì đang chiếu với thực tế xã hội của con không? Câu chuyện trên màn hình khiến con cảm thấy, suy nghĩ và tưởng tượng điều gì?
3. Đề cao cách thức trò chuyện với con về nội dung trên thiết bị
Hãy quan sát con bạn đang xem, tạo ra hoặc chia sẻ nội dung gì? Nội dung này có hữu ích cho con không? Hay nội dung đó có thể có vấn đề hoặc không phù hợp? Ví dụ: đó có phải là bạo lực, về một chủ nghĩa sai lầm, bóc lột, thành kiến hoặc có khả năng gây hại cho sự phát triển của con bạn không? Quan trọng hơn nữa là con bạn hiểu và và vận dùng gì từ nội dung chúng xem?
Tạo cơ hội để trò chuyện cởi mở với con bạn về phương nội dung từ thiết bị mà con đã xem. Hãy thể hiện sự tò mò của bạn để tránh việc trẻ cảm thấy bị phán xét, và thay vào đó hãy cố gắng hiểu lý do tại sao con bị thu hút vào chương trình cụ thể ấy. Bắt đầu bằng cách đặt những câu hỏi khuyến khích con thể hiện cảm xúc, chẳng hạn như: “Con thích điều gì về chương trình này? Con không thích điều gì? Tại sao?”
Hãy đảm bảo rằng con bạn cảm thấy rằng ý kiến của chúng có giá trị với bạn khi chúng về vấn đề nội dung mà con xem. Từ đó, cố gắng đào sâu vào các cuộc trò chuyện, phân tích sâu hơn, phù hợp với lứa tuổi của con, khuyến khích con khám phá các chủ đề phức tạp, chẳng hạn như động cơ của nhân vật hoặc ý định của tác giả trong mỗi câu chuyện được kể.
4. Trao cho con cơ hội phân tích các thông điệp được chia sẻ
Hãy dành thời gian để ngồi với con bạn và cùng nhau khám phá các vấn đề hóc búa như sức mạnh, kinh tế và quyền sở hữu… Hãy đặt những câu hỏi như ai đã tạo ra những công nghệ này và vì mục đích gì? Nó đại diện cho tiếng nói của ai, còn ai không được đại diện? Ở nhiều phương diện khác nhau, con trẻ thực sự là những người “bản địa” đầy hiểu biết về kỹ thuật số, những người thực sự đang liên tục định hướng các công nghệ mới. Nhưng để tham gia đầy đủ, hiệu quả và an toàn vào thế giới công nghệ, trẻ em và thanh thiếu niên cần được hướng dẫn (từ bạn, với tư cách là cha mẹ!). Chúng cũng cần các nguồn lực, cơ hội thực hành và đối thoại liên tục với những người lớn trong cuộc sống của chúng.
5. Hãy xem cách chính cha mẹ đang sử dụng màn hình vào việc gì
Vì những gì bạn xem với màn hình điện thoại và máy tính chính là hình mẫu với con bạn. Hãy xem xét thời gian sử dụng thiết bị, việc sử dụng màn hình và mức độ tương tác chung với công nghệ của riêng bạn một cách khách quan. Chúng có đang làm tấm gương tốt hay gương xấu cho con?
Smartcom English(dịch và minh họa)
Nguồn: Nghiên cứu của Harvard – https://www.gse.harvard.edu/news/uk/21/08/parents-time-rethink-your-child%E2%80%99s-relationship-screen-time
Nghiên cứu từ lâu đã nhấn mạnh những tác động tiêu cực của việc đánh đòn lên sự phát triển tình cảm – xã hội, sự tự kỷ luật, và phát triển nhận thức của trẻ em, nhưng nghiên cứu mới được công bố vào tháng 4 năm 2021 cho thấy đánh đòn có thể làm thay đổi phản ứng não của trẻ em theo những cách tương tự như ngược đãi nghiêm trọng và làm tăng nhận thức về các mối đe dọa.
Nhà nghiên cứu Jorge Cuartas, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại trường Cao học Giáo dục Harvard cho biết: “Những phát hiện này là một trong những bằng chứng cuối cùng có ý nghĩa đối với nghiên cứu trong 50 năm qua về đánh đòn. Ông cũng là người đồng tác giả nghiên cứu với Katie McLaughlin, giáo sư tại Khoa Tâm lý học tại Đại học Harvard. “Chúng tôi biết rằng đánh đòn không hiệu quả và có thể gây hại cho sự phát triển của trẻ em và làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Với những phát hiện mới này, chúng tôi cũng biết rằng nó có thể có tác động tiềm tàng đến sự phát triển của não bộ, thay đổi sinh học và dẫn đến những hậu quả lâu dài”.
Nghiên cứu mang tên “Trừng phạt thân thể và phản ứng thần kinh tăng cao đối với mối đe dọa ở trẻ em”, được xuất bản trên tạp chí Child Development, đã phân tích hoạt động não của trẻ em bị đánh đòn khi phản ứng trước các mối đe dọa từ môi trường so với trẻ em không bị đánh đòn. Phát hiện của họ cho thấy rằng những đứa trẻ bị đánh đòn có phản ứng não lớn hơn, cho thấy rằng việc đánh đòn có thể làm thay đổi chức năng não của trẻ theo những cách tương tự như những hình thức ngược đãi nghiêm trọng.
Nghiên cứu đã xem xét 147 trẻ em, bao gồm cả một số trẻ bị đánh đòn và một số trẻ không bị đánh đòn trong những năm đầu đời, để thấy những khác biệt tiềm ẩn đối với não bộ. Bằng cách sử dụng đánh giá MRI, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy những thay đổi trong phản ứng của não trong khi bọn trẻ xem một loạt hình ảnh có các biểu hiện trên khuôn mặt biểu thị phản ứng cảm xúc, chẳng hạn như cau mày và nụ cười. Họ phát hiện ra rằng những đứa trẻ bị đánh đòn có phản ứng hoạt động cao hơn ở các vùng não điều chỉnh các phản ứng cảm xúc này và phát hiện các mối đe dọa – ngay cả với những biểu hiện trên khuôn mặt mà hầu hết đều coi là không có tính đe dọa.
Nhà nghiên cứu Cuartas cho rằng có lẽ rất đáng ngạc nhiên là đánh đòn gây ra phản ứng tương tự trong não trẻ em trước những trải nghiệm đe dọa mang tính nghiêm trọng như lạm dụng tình dục. Cuartas giải thích thêm “Bạn thấy những phản ứng tương tự trong não, những hậu quả đó có thể ảnh hưởng đến não ở những khu vực thường tham gia vào việc điều chỉnh cảm xúc và phát hiện mối đe dọa, để trẻ em có thể phản ứng nhanh chóng với các mối đe dọa trong môi trường.”
“Trẻ em ở các độ tuổi mẫu giáo và đi học – và thậm chí cả người lớn – những người đã bị đánh đòn – có nhiều khả năng phát triển các rối loạn lo âu và trầm cảm hoặc gặp nhiều khó khăn hơn khi tham gia tích cực vào trường học và các kỹ năng điều tiết, mà chúng tôi biết là rất cần thiết để học sinh có thể thành công trong môi trường giáo dục.”
Mặc dù chúng ta có xu hướng coi việc đánh đòn là một phương thức “lỗi thời”, nhưng đây vẫn là một hình thức kỷ luật cực kỳ phổ biến được sử dụng giữa các bậc phụ huynh và ngay cả trong trường học – mặc dù nghiên cứu đã cho thấy mối liên hệ rõ ràng của việc đánh đòn này với các hệ quả tiêu cực. Cuartas chỉ ra chỉ có 62 quốc gia – không bao gồm Hoa Kỳ – có lệnh cấm đánh đòn. Ngoài ra, gần một phần ba các bậc cha mẹ ở Hoa Kỳ cho biết họ đánh đòn con cái của họ hàng tuần, chỉ thường gây ra những tác động và hệ lụy bất lợi.
Nhà nghiên cứu Cuartas nhấn mạnh: “Trẻ em ở các độ tuổi mẫu giáo và đi học – và thậm chí cả người lớn – những người đã bị đánh đòn – có nhiều khả năng phát triển các rối loạn lo âu và trầm cảm hoặc gặp nhiều khó khăn hơn khi tham gia tích cực vào trường học và các kỹ năng điều tiết, mà chúng tôi biết là rất cần thiết để học sinh có thể thành công trong môi trường giáo dục.”
Cuartas đưa ra ba bước mà các nhà giáo dục, phụ huynh và người chăm sóc trẻ có thể thực hiện để xóa bỏ việc đánh đòn trong trường học và gia đình:
Nhận thức rằng đánh đòn không phải là một công cụ kỷ luật hiệu quả trong lớp học hay ở nhà. Khi cha mẹ hoặc giáo viên sử dụng biện pháp đánh đòn, điều đó không dẫn đến kết quả mong muốn về kỷ luật hoặc dạy trẻ cách điều tiết cảm xúc của mình. “Chúng tôi biết có những kỹ thuật tốt hơn, như kỷ luật tích cực, hiệu quả hơn,” Cuartas nói. “Công cụ quan trọng nhất hiện có là giải thích cho trẻ một số hành vi sai trái và loại hành vi nào cần tìm kiếm sự giải thích để điều chỉnh thông qua ví dụ”.
Làm việc để xóa bỏ các hình thức bạo lực trong môi trường gia đình và trường học bằng cách thúc đẩy các chính sách có thể khiến việc trừng phạt thân thể trở nên bất hợp pháp trên thế giới. Như Cuartas lưu ý, vấn đề trừng phạt thân thể vẫn được chấp nhận rộng rãi trên thế giới và ngay cả ở Hoa Kỳ.
Cung cấp giải pháp hỗ trợ tốt hơn cho các phụ huynh. Nghiên cứu cho thấy rằng không phải lúc nào cũng đổ lỗi cho cha mẹ về việc dùng đòn roi. Cuartas chỉ ra nhiều lý do khác nhau khiến cha mẹ chọn hình thức đánh đòn, bao gồm các trải nghiệm những gì họ học được khi lớn lên, các yếu tố cảm xúc như căng thẳng và các hoàn cảnh gia đình khác nhau. Ông lưu ý rằng điều quan trọng là phải chăm sóc những chăm nuôi trẻ và cung cấp các công cụ sẽ giúp gia đình và người chăm nuôi trẻ tìm ra các cách kỷ luật khác.